
Anh Hùng Bắc Cương
Giới thiệu truyện
Xin được giới thiệu đến quý độc giả bộ truyện Thuận Thiên Di Sử trước khi khám phá Anh Hùng Bắc Cương. Nếu bạn đã từng đọc Anh-hùng Tiêu-sơn giai đoạn một mang tên Thầy tăng mở nước, thì đây không phải là một cái tên mới; nó đã xuất hiện vào thế kỷ thứ mười hai để chỉ về các vị tăng ni đã góp phần chuyển biến Phật giáo từ Ấn Độ và Trung Quốc, thành một dạng Phật giáo mang bản sắc dân tộc Việt. Khi đất nước rơi vào cảnh mất mát kéo dài gần ngàn năm, các vị tăng ni này đã kết hợp đạo pháp của đức Thế Tôn với truyền thống tộc Việt thời kỳ vua Hùng, vua An-Dương, và vua Trưng. Vì lý do đó, có câu nói rằng: “Đạo pháp bất dị quốc đạo”. Khi đất nước đã mất từ lâu, nhưng nay được khôi phục, người đời sau đã ghi nhớ công lao của các ngài bằng câu: Thầy tăng mở nước. Điều này không có nghĩa là toàn thể tộc Việt phải sống trong đạo Phật, mà chính là sử dụng đạo pháp của đức Thế Tôn để phục vụ cho dân tộc, mang nhân ái và từ bi làm nền tảng trong việc trị dân.
Những phần tiếp theo sẽ chỉ rõ hình ảnh của một Phật tử trong vai trò hoàng đế, áp dụng đạo pháp để cai trị đất nước, đem lại cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho nhân dân, tương tự như thời kỳ của vua Hùng và vua Trưng. Điều này hoàn toàn khác biệt với Trung Nguyên vào thời điểm đó, nơi mà Đạo Nho là hệ tư tưởng thống trị. Tuy nhiên, trong triều đại của Thuận-Thiên hoàng đế (Lý Thái-tổ), khi ngài quên ăn, quên ngủ vì lo cho dân, thì những thế lực ma quái đã hiện hình dưới lớp mặt nạ của Hồng-thiết giáo. Cũng có những ác quỷ và ma giới đội lốt tăng ni như Nguyên-Hạnh, Hoàng-Liên, và Thạch-Phụng đang hoành hành.
Đến giai đoạn ba, câu chuyện chuyển mình sang những diễn biến mới, mô tả việc phòng thủ biên giới phía Bắc, nơi có 207 khê động, tức các bộ lạc dân tộc thiểu số. Trong suốt mấy nghìn năm, các khê động này đã như hàng rào bảo vệ cho Bắc cương của Đại-Việt. Vào thời vua Hùng, vua An-Dương, và vua Trưng, lãnh thổ của nước ta từng mở rộng đến hồ Động-đình. Riêng lãnh thổ quận Giao-Chỉ bao gồm lưu vực sông Hồng, tức địa phận Bắc-Việt ngày nay, cùng với vùng lưu vực sông Tả-giang và Hữu-giang, thuộc vùng Nam Trung Quốc như: Lộc-xuân, Nguyên-dương, Khâu-bắc, Văn-sơn, Phú-định (thuộc Vân-Nam). Một phần phía Tây-Nam sông Tả-giang như Điền-lâm, Bách-sắc, Điền-dương, Điền-Đông, Sùng-tả, Bồ-Bắc, Nhạc-xuyên thuộc Quảng-Tây.
Trong những năm 1981-1983, khi làm việc cho Liên-hiệp các viện bào chế châu Âu (CEP) và Ủy-ban trao đổi Y-học Pháp-Hoa (CMFC), tôi đã có dịp khám phá những vùng đất này. Qua việc phỏng vấn gần năm mươi dòng họ trong khu vực, tôi phát hiện ra rằng có tới bốn mươi ba dòng họ ghi chép rằng tổ tiên họ vào thời Tống chính là người Việt. Hơn nữa, tôi còn tìm hiểu tại bảo tàng địa phương và cơ quan bảo tồn di tích về kết quả của những cuộc khai quật xảy ra tại đây.
Các cuộc khai quật đã phát hiện ra nhiều ngôi mộ với những viên gạch trên nắp quan tài ghi tên người quá cố cùng với niên hiệu của các vua như Lê-đại-Hành cùng với các niên hiệu như Thiên-Phúc (980-988), Hưng-thống (989-993) và Ứng-thiên (994-1005), hay các vua Lý Thái-Tổ với niên hiệu Thuận-Thiên (1010-1028) và Lý Thái-Tông với các niên hiệu như Thiên-Thành (1028-1033), Thông-Thụy (1034-1037). Di tích gần nhất là ngôi mộ của dòng họ Quách ở Điền-Đông, thuộc Quảng-Tây ghi: Quách công húy Tuần. Thụy Minh-Mẫn, chung ư thập tam nhật, thập nhị nguyệt, Tý thời, Kim vương Đại-Định... Khách du lịch có cơ hội đọc thêm về ông với những chi tiết niên hiệu và lịch sử.
Tại Khâu-bắc, Văn-sơn, Phúc-định thuộc Vân-Nam, người ta cũng đã tìm thấy đền thờ công chúa Bảo-Hòa, nhưng không rõ bà thuộc họ Lý hay Thân. Ngoài ra, còn có hàng loạt ngôi mộ ghi lại di sản thời Trần, tương ứng với niên hiệu vua Trần Thái-Tông và Nhân-tông. Giữa hai vùng đồng bằng Tả-giang và Hữu-giang, với Trung-châu Bắc-Việt, được chia cách bởi khu rừng núi Bắc-biên hiện nay. Trong khu rừng núi ấy có 207 nhóm sắc tộc Mèo, Thái, Mán, Nùng, Tày, Mường. Các sử gia Trung Quốc gọi họ là Man-dân, hay Khê-động, nhưng thực tế, các khê động này chính là di tích của các Lạc-ấp trong thời kỳ của vua Văn-lang, Âu-lạc, Lĩnh-Nam còn lại.
Huyền sử ghi lại rằng tổ quốc Kinh-Dương đã kết hôn với công chúa con vua Động-đình. Tiếp đó, tổ quốc Lạc-Long cũng kết hôn với công chúa Âu-Cơ. Sau khi cả hai tổ quốc được kết nối, họ đưa quốc mẫu lên núi Tam-sơn bên hồ Động-đình để hưởng thụ thanh bình suốt ba năm. Khi lên tới núi Chín vạn hoa nở rộ, các vị tổ quốc cũng đã tổ chức đại hội tại đây để khởi nghĩa. Hai trận đánh mang tính quyết định đã diễn ra tại những nơi này.
Phía Nam hồ Động-đình là sông Tương chảy từ Bắc vào Nam, qua Hồ-Nam và Quảng-Tây. Bên hữu ngạn sông Tương có ngọn núi Thiên-đài, nơi vua Đế-Minh lập đàn tế trời đất và phong cho con trưởng làm vua phương Bắc (nay là Trung Quốc) tức vua Nghi; con thứ làm vua phương Nam (nay là Việt Nam) tức vua Kinh-Dương. Những di tích này hiện vẫn còn tồn tại.
Cuối cùng, tôi xin kính mời quý độc giả đón đọc Anh-hùng Bắc-cương để cảm nhận được những anh hùng và tổ tiên vĩ đại của chúng ta. Viết tại Paris vào ngày giỗ tổ Hùng-vương năm Tân-Mùi (1991).
Ghi chú:
- Độc giả có thể tìm hiểu rõ ràng hơn về lịch sử, địa lý, triết học, và văn hóa Việt của các học giả tiên phong như Nguyễn Đăng-Thục, Lương Kim-Định, Thái Văn-Kiểm.
- Hoàng-xuân-Hãn, Lý-thường-Kiệt, Nhà xuất bản Sông-Nhị Hà-nội 1949, trang 88.
- Việc này xảy ra năm 1978.